TRÀ HOA

Một chút tản mạn về Trà

trà trong văn chương

Trà dường như đã đi vào cuộc sống của chúng ta từ rất lâu. Có người uống trà để giải khát, cũng có người uống trà để tìm bình yên, hay cũng có người chỉ đơn giản coi đó như một thú vui tao nhã khi nhàn rỗi. Nhưng có lẽ cũng có rất nhiều người yêu trà, giống như Nhà Hon yêu vậy. Trà đối với Nhà mang một vẻ đẹp tĩnh lặng, có chút buồn vương, có chút mộc mạc và cùng nhiều câu chuyện đằng sau…

1. Trà trong văn chương của Bạch Lạc Mai

Bạch Lạc Mai là một ẩn sĩ sống tại vùng đất Giang Nam (Trung Quốc), vốn nổi danh với vẻ đẹp sông nước hữu tình. Giang Nam có Ô Trấn đẹp tựa như một bức tranh thủy mặc, những ngôi nhà với kiến trúc cổ kính nghiêng mình theo dòng sông Dương Tử, lối sống sinh hoạt nơi đây còn được giữ gìn màu sắc của nền văn minh xưa cũ. Bạch Lạc Mai tâm tính như lan thảo, cốt cách tựa hoa mai, bình đạm như hoa cúc nên những cảm xúc được gửi gắm vào tác phẩm của cô đều êm đềm bình lặng như chính con người cô. Cô được mệnh danh là “ẩn thế tài nữ” trên văn đàng Trung Quốc vậy.

Giang Nam

Trong nhiều tác phẩm của Bạch Lạc Mai, Trà dường như là một “nhân vật” không thể thiếu. Cô coi hồng trần là đạo tràng, xem vị đời là bồ đề. Nhóm một lò lửa duyên phận, pha một bình “vân thủy thiền tâm” (lòng thiền mây nước), cuộc gặp gỡ có hương trà quấn quýt đã hun đúc vô vàn những cuộc gặp gỡ kì lạ hay cả những lần gặp lại không hẹn trước… Có lẽ điều khiến Nhà yêu thích văn chương của Bạch Lạc Mai cũng chỉ đơn giản có vậy.

Đối với trà cô từng viết:

“Trà, bắt nguồn từ tự nhiên, trải tinh hoa năm tháng, tắm thử thách xuân thu, từ đó mà có linh tính như hồn phách non nước.

Sau này mới biết, trong lòng chúng sinh, trà có mùi vị khác nhau. Thứ trà mới dùng nước tinh khiết đun sôi trong bình đó, quẩn quanh giữa răng và môi của trà khách, uống xong, có người cảm thấy đắng như sinh mệnh, cũng có người thấy nhạt như gió mát.

Trà có đậm nhạt, có nóng lạnh, cũng có buồn vui. Dùng một trái tim trần tục để thưởng trà, khó tránh khỏi chỉ chăm chăm vào sắc, hương, vị, mà thiếu đi một phần thanh đạm và chất phác. Trà có ngàn vạn vị, thậm chí hòa lẫn với thế sự và tình cảm. Dùng một trái tim siêu thoát để thưởng trà, thì có thể ung dung tận hưởng sự tĩnh lặng tuyệt mỹ của mây bay ngang trời, nước biếc không gợn sóng.”(1)

Trong văn chương của Bạch Lạc Mai, trà mang vẻ đẹp tự nhiên đầy tĩnh lặng, lại thoảng hoặc vẻ đẹp của Thiền, của Phật giáo. Có lẽ thoảng cả chút buồn vương nhưng lại thanh tao và đầy tính giác ngộ. Mượn trà để viết về nhân sinh, nhân duyên, để kể nên câu chuyện trưởng thành của chính mình. Mượn trà để viết nên cái đẹp, viết nên bình an và viết nên cả vô thường….

“Như trà, chất chứa tinh hồn của vạn vật, rót vào trong chén, trước sau một sắc, trong vắt thấu tỏ…

Trà có thể dùng để gột bỏ bụi trần, gạn lọc tâm tình, rộng kết thiện duyên. Cho nên, người biết cách thưởng trà, cũng là một người tình nguyện để bản thân sống một cách giản đơn và thuần khiết.”(2)

“Có lẽ sẽ có một ngày nào đó, tôi sẽ uống cạn một chén trà cuối cùng của hồng trần, rời bỏ ba ngàn thế giới, đổi lấy một đời bình an. Là lạc lối quay lại, là thiền định ngộ đạo, cũng không quan trọng. Sau đó, núi lạnh đường đá, cưỡi ngựa trắng mà đi, uống hết nước ngàn sông, thưởng thiền trà đến mây gió nhẹ bay.” (3)

thiền trà

Bạn có thể dùng đồ gốm, tách sứ, chén ngọc, hay chung tre, bát gỗ để pha trà thưởng trà. Chúng sinh thưởng trà, đa phần là để xua đi thời gian rảnh rỗi, để tạm lánh ồn ào tìm về tịch mịch. Kẻ tu hành cũng thưởng trà một cách ung dung, đơn giản, không câu nệ tiểu tiết, mùi vị chính là Bát Nhã.

Tâm tình uống trà như thế nào có lẽ vị trà cũng sẽ như thế ấy? Tâm an vị ngọt, tâm động vị đắng chát còn vấn vương hoài…

2. Trà trong văn chương Việt Nam

Văn hóa uống trà của người Việt không thể nói rõ là bắt nguồn từ thời điểm nào nhưng từ những câu truyện cổ tích xa xưa ta đã thấy được hình ảnh của trà xuất hiện.

Người Việt cũng chỉ gọi trà mộc mạc như chính phong cách dùng trà của người mình, chứ không coi Trà là Đạo như văn hóa Nhật Bản, cũng không gọi trà là Trà Kinh như văn hóa Trung Quốc. Thời xưa danh nhân Việt mượn việc thưởng trà để biểu lộ nhân sinh quan, nếp nghĩ, nghệ thuật hay cái nhìn bao quát về thế sự, về cuộc đời. Thưởng trà ngoài việc thưởng thức vẻ đẹp của bình yên, để được thanh nhàn trước khói lửa trần tục, uống trà còn là sự ẩn mình nhìn lại sự đời nhiều đổi thay.

Trong thời gian rời khỏi quan trường nhiều biến động lui về ở ẩn tại Côn Sơn, Danh nhân Văn hóa Nguyễn Trãi cũng chọn bầu bạn với trà. Trong thơ ông viết (bảng dịch thơ):

“Mừng được nhàn thân, chức quan rảnh rỗi
Trọn ngày đóng cửa, ít qua lại với ai
Hơi bốc đầy nhà vì xông gỗ bách buổi sáng
Tiếng reo của cây tùng làm rộn gối ngủ, đêm pha trà uống…”(4)

Đồng quan điểm mượn trà để vẽ nên vẻ đẹp tiêu dao, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian lui về ở ẩn cũng có viết (bảng dịch thơ):

“Hoa, trúc tay tự trồng.
Gậy, dép bén mùi hoa,
Chén, cốc ánh sắc hồng.
Rửa nghiên, cá nuốt mực,
Pha trà, chim lánh khói.
Ngâm thơ thừa tiêu dao…”(5)

Đại thi hào Nguyễn Du thì vẻ nên vẻ đẹp của trà như là một thứ mở đầu câu chuyện, kết nối con người với nhau (bảng dịch thơ):

“Khi hương sớm khi trà trưa

Bàn vây điểm nước đường tơ hòa đàn

Thư nhàn xin lửa pha trà mới

Vui thú bên thông ngắm chiều qua” (6)

Có thể thấy trong văn chương Việt Nam, trà lại mang vẻ đẹp bình yên, mộc mạc và tự do vậy.

3. Những vùng trà nổi tiếng của Việt Nam

Vùng Trà Tây Bắc: Những búp trà ở Tây Bắc thuần khiết và tinh khôi bởi được ấp ủ sương mù cùng nền nhiệt độ mát mẻ của vùng cao. Chính khí hậu và thổ nhưỡng nơi này đã tạo nên hương vị trà đặc biệt, phản phất chút hương vị núi rừng hùng vĩ, không thể trộn lẫn với bất kì vùng miền nào. Vùng Tây Bắc đặc biệt nổi tiếng với loại Trà Shan Tuyết Cổ Thụ.

Vùng Trà Thái Nguyên: Đây là vùng trà lớn nhất miền Bắc được người ta ưu ái gọi là “đệ nhất danh trà”. Vùng đất này có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp để phát triển cây chè (hay trà). Trà Thái Nguyên thường có màu vàng chanh, hương thơm thoảng hoặc như mùi cốm non, vị đầu chan chát, hậu vị ngòn ngọt.

Vùng Trà Bảo Lộc: Với khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi, Bảo Lộc trở thành một vùng trà quan trọng của Việt Nam với các loại trà ướp hoa nổi tiếng. 

Vùng Trà Hà Nội: Vùng đất Thăng Long ngàn năm Văn Hiến của nước Việt, tuy không phải là nơi trồng trà nhưng lại là nơi sản sinh ra loại Trà ướp Hoa Sen phủ Tây Hồ nổi tiếng.

4. Cách dùng trà của người Việt Nam

Người Việt thưởng trà với sự bình dị, mộc mạc, gần gũi, chứa đựng nhiều tình nghĩa thân thương giữa những người anh em, họ hàng, bạn bè, bà con lối xóm. Người Việt mời nhau chén trà rồi cùng nhâm nhi suy ngẫm bàn luận về thế sự, cùng nhau nói chuyện vui hay chỉ đơn giản là giải lao sau những giờ làm việc mệt mỏi.

trà việt nam

Người uống thường nhẹ nhàng đưa chén trà lên mũi để thưởng thức hương thơm của trà, rồi từ từ nhấp từng ngụm nhỏ và yên lặng cảm nhận vị của trà.

a. Nguyên tắc khi pha trà:

Người Việt dùng trà đơn giản mộc mạc là thế, tuy nhiên đối với những người sành uống trà để có một tách trà ngon chuẩn vị phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định.

Nhất thủy: Nước dùng để pha trà thường phải là nước mưa hứng ở giữa trời, nước suối thiên nhiên hoặc nước giếng sâu. Bởi những nguồn nước này thường trong sạch, là tinh túy của đất trời, khi kết hợp cùng trà thì sẽ tạo nên hương vị trà đúng nghĩa. 

Nhì trà: Muốn có một tách trà ngon chuẩn vị thì chọn loại trà chất lượng chính là một bước quyết định mà người thưởng trà phải đặc biệt lưu tâm. Có 5 tiêu chí chuẩn mực dành cho “những người uống trà sành điệu” để lựa chọn trà là: Sắc – thanh – khí – vị – thần.

Tam bôi – Tứ bình: Tức chén, tách, bình dùng khi pha trà thưởng trà. Chúng phải có khả năng chịu nhiệt cao, cùng khả năng tản nhiệt đều. Các tiêu chí còn lại như thiết kế, kích thước, màu sắc thì có thể tùy vào người thưởng trà. Trung Quốc có Ấm Tử Sa nổi tiếng chỉ có ở Nghi Hưng – Vô Tích, Việt Nam có Ấm Gốm Bát Tràng ở Gia Lâm – Hà Nội.

Ngũ quần anh: Là người thưởng trà cùng. Theo quan điểm của người Việt, bạn rượu dễ tìm, bạn Trà thì như tri kỷ khó kiếm. Trong văn hóa Việt Nam, người lớn tuổi sẽ được mời trà trước nhất. 

b. Các bước pha trà:

Dưới đây Nhà sẽ giới thiệu đến bạn các bước để pha một bình trà ngon.

Bước 1: Tráng ấm và chén trà qua nước nóng để làm sạch và làm ấm. Điều này sẽ giúp lưu trữ hương vị trà khi pha.

Bước 2: Cho một lượng trà vừa đủ vào bình, rót nước sôi từ từ vào bình.

Bước 3: Rót hết lượng nước mới thêm vào bình ra, bước này gọi là bước “đánh thức trà” vừa có tác dụng làm sạch bụi bẩn trong trà và loại bỏ bớt vị chát của trà.

Bước 4: Từ từ rót thêm nước sôi vào bình trà, đậy nắp lại và để yên trong 20-25 giây.

Bước 5: Rót đều nước trà ra chén rồi bắt đầu từ từ thưởng trà.

Tạm kết: Dù cho là trà xanh đắng chát, nồng đượm hương thơm hay là trà ướp hoa dịu ngọt, chỉ có hương thơm nhẹ nhàng quấn quýt nơi đầu mũi; từ xưa đến nay, trà vẫn được xem là “người bạn của sức khỏe” và “người bạn tâm giao” để người thưởng trà có thể đắm chìm trong tịch mịch kể những câu chuyện chỉ dành riêng cho bản thân mình. 

Chúc người thương khi dùng trà sẽ được thưởng thức trọn vẹn hương vị và vẻ đẹp tĩnh lặng của trà.

Bạn có thể xem thêm bài viết: Trà vả – đặc sản của người Huế

Hiện tại, Nhà Hon đang tập trung cho sản phẩm Trà hoa khô bao gồm: Trà hoa Cúc La Mã, Trà hoa Cúc chi, Trà Hương thảo và Trà hoa Lài.

Nhà Hon chúc người thương bình an!

Related Posts

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.